Trong quá trình mở cõi về phương Nam, người Việt đã tạo ra một dòng gốm độc đáo: gốm Cây Mai. Vào khoảng cuối thế kỷ 18, nhiều cư dân kéo về lập nghiệp ở một vùng chằng chịt sông rạch, nay là Sài Gòn-Chợ Lớn. Bản đồ vẽ năm 1815 dưới thời Hoàng đế Gia Long đã chấm một dấu son trong quy hoạch Sài Gòn-Chợ Lớn bấy giờ: Xóm Lò Gốm. Các nhà khảo cổ đã mất công dò tìm địa danh này và biết được xóm đó giờ thuộc về các quận 11, quận 6 và quận 8 của TP. Hồ Chí Minh. Nay thì nghề làm gốm nổi tiếng một thời chỉ còn vương lại cho hậu thế tên gọi địa danh chuyên biệt của nghề, nào là rạch Lò Gốm, đường Lò Siêu, Xóm Đất, cầu Lò Chén… Cái tên Lò Gốm cũng được Thượng thư nhà Nguyễn kiêm sử gia lừng lẫy Trịnh Hoài Đức nhắc đến trong sử ký để đời: “Gia Định thành thông chí”.




Sài Gòn  những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 là nơi dân tứ phương tụ hội để lập nghiệp. Xóm Lò Gốm cũng thu hút thợ gốm người Hoa phiêu tán từ Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên cùng với người Việt, người Chăm các tỉnh kéo về. Họ đã dựng nên thương hiệu gốm Cây Mai. Thương hiệu này nổi tiếng đến nỗi vào thời đó có sự tranh chấp bản quyền, dẫn tới việc dàn xếp phường hội để thợ gốm vùng Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai của Sài Gòn, theo học giả Menard trong sách “Khảo cứu về tỉnh Biên Hòa” xuất bản từ năm 1901.


Địa lợi của Sài Gòn lúc còn nhiều kênh rạch, dân cư thưa thớt đã tạo ra nhiều làng nghề bên bờ sông nước như nghề gốm. Sản phẩm được mang đi miền Tây, miền Đông Nam Bộ và cả Campuchia theo đường thủy thật thuận tiện. Nhưng sau này, Sài Gòn phát triển quá nhanh, đường xá và cao ốc mọc lên, lấp dần kênh rạch. Thợ làm gốm dời đi lập nghiệp trên đất Bình Dương để tạo thành dòng gốm Lái Thiêu, một số lên Biên Hòa kết hợp với các lò gốm địa phương tạo thành dòng gốm Biên Hòa.


Cây Mai, dòng gốm thuộc loại sớm nhất của đất Nam Bộ đã trở thành dĩ vãng, chỉ còn lại một số di tích như lò gốm Hưng Lợi (phường 16, quận 8) được các nhà khảo cổ khai quật năm 1997-1998. Tại đây đã thấy dấu tích ba lò gốm nối tiếp và chồng lên nhau, sản xuất lu, chậu, khạp, hũ… có niên đại cuối thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 19.
Gốm Cây Mai không chỉ nổi tiếng vì là trung tâm sản xuất gốm sớm nhất trong các dòng gốm ở Nam Bộ mà trong khoảng 2 thế kỷ tồn tại của mình đã kịp để lại cho hậu thế những sản phẩm đẹp. Chẳng thế mà năm 2015 đã có một cuộc trưng bày gốm Nam Bộ trong đó có dòng gốm Cây Mai với tư cách là cổ vật tại Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam. Gốm Cây Mai còn có vị trí xứng đáng trong các phòng trưng bày của các Bảo tàng lớn trong nước và thế giới.




Điều gì làm nên bản sắc của gốm Cây Mai? Trước tiên, đó là vẻ đẹp bình dị của dòng gốm này. Sự ra đời của gốm Cây Mai phục vụ cho cuộc sống của những người Việt đi mở cõi phương Nam từ thời chúa Nguyễn, vua Nguyễn và của những người Hoa phiêu tán vì các cuộc chiến liên miên từ miền nam Trung Quốc trong thời nhà Thanh di cư sang đất Việt. Sự bình dị của gốm Cây Mai thể hiện ở các sản phẩm đời thường như: muỗng, chén, ấm trà, bình rượu, thố, siêu, nồi có tay cầm, chậu hũ, ống nhổ, thạp, lu… Những sản phẩm này là đất nung có tráng men chống thấm. Một số sản phẩm như chóe, lư hương, chân đèn, chậu trồng hoa, đôn ngồi… đã là sành men cao cấp.


Bên cạnh các sản phẩm thực dụng, bình dân, gốm Cây Mai còn là gốm trang trí cho các di tích tôn giáo như đình chùa, đền miếu. Dòng gốm này đã tạo ra những bức tượng thờ mang tính nghệ thuật trong đình chùa hay nhà ở dân gian.
Cái đẹp và độc đáo của dòng gốm Cây Mai thể hiện ở màu men. Người Sài Gòn xưa thích sử dụng gam màu mạnh, tương phản, thậm chí sặc sỡ. Đó là những màu nguyên như của dòng tranh dân gian Đông Hồ. Người ta có thể thấy ở gốm Cây Mai có màu xanh cô ban, xanh lục đậu, xanh ve chai, nâu, đen, trắng, vàng, đỏ. Men vàng từ thổ hoàng, men đen từ ô xít chì… Theo một bài nghiên cứu về gốm Cây Mai của ông Derbes “Nghiên cứu về công nghệ gốm sành ở Đông Dương”, xuất bản năm 1882, sản phẩm được nung bằng củi trong một cái lò dài khoảng 25m. Mỗi mẻ cho ra 700-2.000 sản phẩm. Thời gian nung là 48 giờ.


Một số sản phẩm đã làm nên thương hiệu của gốm Cây Mai như chậu cảnh có hình tròn hay lục giác, tô men màu, đắp nổi nhiều đề tài cảnh vật, điển tích và thư pháp. Các tượng nhỏ mang đề tài lưỡng long tranh châu, kỳ lân, cá hóa rồng, ông Nhật, bà Nguyệt… được gắn trên bờ nóc, bờ mái của đền miếu, một số tượng thờ Phật, Thần, La Hán, Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu… nay vẫn còn trong nhiều di tích tôn giáo cũng là sáng tạo từ đôi bàn tay người thợ Cây Mai.




Đáng chú ý, một tác phẩm của lò gốm Cây Mai vẫn còn nguyên vẹn đến ngày nay là 25 tấm gốm ghép lại trang trí hình 9 con rồng ẩn hiện trong mây khá sinh động, có tên là Chiếu Bích Cửu Long ở chùa Bà, đường Nguyễn Trãi, TP. Hồ Chí Minh. Sản phẩm lò gốm Cây Mai vẫn còn được bắt gặp trong nhiều nhà dân hay trong các sưu tập tư nhân ở Nam Bộ với những dòng chữ ghi lại tên lò, tên hiệu buôn gốm Cây Mai một thời.


Dòng gốm Cây Mai cũng như các dòng gốm Nam Bộ đã thực sự đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa của đất phương Nam. Gốm Cây Mai đã là sự kết tụ tinh túy của đất, sự kết tinh của tâm thức bình dị, dung hòa của những người thợ gốm đất Sài Gòn một thuở.

Bài: PGS.TS Trnh Sinh

nh: Lê Bích

Bình luận