Huyền bí cát tiên

08/11/2017 16:15

Thánh địa Cát Tiên (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng) bất ngờ được phát hiện cách đây mới chỉ hơn 30 năm, được coi là phát hiện khảo cổ lớn nhất trong thế kỷ 20. Nơi đây đã để lại bao câu hỏi chưa có lời giải đáp bởi sự huyền bí của tôn giáo, vẻ đẹp huyền ảo của đền tháp gạch đỏ, tượng đá xám và sắc vàng óng của những lá vàng phù điêu dập nổi trên các tượng thần, vũ nữ và các minh văn.

Điều đáng ngạc nhiên đầu tiên chính là khu Thánh địa này được biết đến muộn màng vào năm 1985, trong khi các nhà khoa học Pháp đã biết đến di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã hơn một thế kỷ với nhiều công trình khảo cứu và nơi đây cũng đã được vinh danh là Di sản Văn hóa của nhân loại. Như một viên ngọc bị bỏ quên giữa vùng cao nguyên lộng gió, Cát Tiên đã làm bao nhà khoa học sửng sốt bởi giá trị của nó. Đây là một cụm đền tháp liên hoàn có niên đại vào khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 8, trải dài hơn 15km dọc bờ tả ngạn sông Đồng Nai ở đoạn mà người dân địa phương gọi là sông Đạ Đờn.




Cư dân Tây Nguyên thời cổ đại đã khéo chọn nơi xây dựng Thánh địa này. Địa thế nơi đây rất hợp với phong thủy: có những ngọn đồi cao trong một vùng bồn địa sông Đồng Nai; ven sông được rừng già Nam Trường Sơn bao bọc, tiện cho người đương thời tìm về hành lễ. Có lẽ đây là nơi đắc địa để tụ hội dân cư vùng Nam Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ. Ngược dòng Đạ Đờn là vùng đồng bằng hẹp đổ vào địa phận của cư dân Chăm Pa xưa ở Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, nơi có nhiều hồ nước ngọt và bờ biển dài tiện cho con người sinh sống. Xuôi dòng Đạ Đờn là sông Đồng Nai với hồ Trị An mênh mông, hòa với sông Sài Gòn rồi đổ ra cửa biển Cần Giờ. Với mạng lưới giao thông thời cổ chủ yếu là như vậy, Cát Tiên đã kết nối được với vùng văn hóa Chăm Pa ở miền Trung và văn hóa Óc Eo của miền Tây Nam Bộ. Có thể nói, Cát Tiên có mối giao lưu văn hóa chặt chẽ theo đường biển thông qua các cửa biển lớn của Vương quốc Chăm Pa và Phù Nam - Óc Eo. Vì thế mà lần theo dấu tích khảo cổ của Thánh địa Cát Tiên, chúng ta còn thấy dấu ấn của cả Chăm Pa và Phù Nam. Phủ trên tất cả là ảnh hưởng của Ấn Độ giáo trên con đường giao lưu Đông-Tây ven biển đương thời.


Từ khi phát hiện, các nhà khảo cổ học đã khai quật Cát Tiên nhiều lần vào những năm 1994, 1996, 1998, 2001, 2003 và 2006. Những gì còn lại của Thánh địa này là một hệ thống kiến trúc đền tháp và mộ tháp được chôn trên các đỉnh đồi ven sông. Trên ngọn đồi cao nhất có tên là đồi Khỉ cao 50m so với mặt đất xung quanh là một đền tháp được các nhà khảo cổ đặt tên là Kiến trúc 1A, có diện tích 144m2 gồm thân tháp và tiền sảnh hướng về phía đông. Thân tháp có bình đồ vuông, kích thước 12m mỗi cạnh, tường xây bằng gạch. Đế tháp cao 1,4m xây giật cấp với năm lớp. Lòng tháp có kích thước 6,4m mỗi cạnh, chính giữa đặt bệ thờ bằng đá giật cấp, phía trên đặt tượng thờ Linga-Yoni bằng đá có kích thước lớn nhất Đông Nam Á với chiều cao 2,1m, đường kính 0,7m và Yoni có cạnh dài 2,26m. Đây là tháp trung tâm, xung quanh là các công trình phụ như tháp thờ nhỏ, sân lát gạch. Theo tính toán của các nhà khoa học, với cạnh chân của tháp có kích thước 12m, thì chiều cao của tháp phải từ 25 đến 30m, tức là cao hơn cả ngọn tháp cao nhất ở Thánh địa Mỹ Sơn. Đáng chú ý, bên dưới bệ gạch đặt Linga-Yoni còn được người xưa đào sâu xuống hơn 5m, rải cát vàng và chứa 166 hiện vật bằng vàng gồm 26 nhẫn, 4 chiếc linga nhỏ, 69 mảnh vàng tròn, 67 mảnh có chạm miết minh văn và hình tượng các vị thần Brahma, Vishnu, Shiva, bò thần Nadin, ngỗng, rùa và hoa sen. Những hiện vật được yểm trong lòng đền tháp này đã làm tăng thêm sự linh thiêng của ngọn tháp trung tâm.








Bên cạnh di tích đền tháp trung tâm đồ sộ nhất trên đồi Khỉ, còn có một hệ thống đền tháp xây trên các ngọn đồi thấp hơn, tạo thành một quần thể đền thờ hoàn chỉnh. Ngoài đền tháp, tại Cát Tiên còn có các mộ tháp cũng được xây trên đồi, được xây kín và bên trên có bộ Linga-Yoni, có đồ tùy táng và hộp K'lon để đựng tro xương hỏa táng của người theo đạo Bà La Môn. Các nhà khảo cổ học còn tìm thấy 4 lò chế tạo gạch ở cánh đồng Bảy Mẫu trong khu vực với các dấu tích tro đốt lò, than củi, gạch cháy… chứng tỏ các công trình nơi đây được xây bằng vật liệu địa phương.




Thánh địa Cát Tiên ra đời trong bối cảnh các khu vực ở Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của làn sóng tôn giáo Bà La Môn, sau đó chuyển hóa thành Ấn Độ Giáo và để lại các di sản lớn như các Tháp Chăm, Phù Nam-Óc Eo, Cát Tiên, Angkor Wat… Di tích này đã để lại cho hậu thế hàng nghìn cổ vật có giá trị lịch sử và mỹ thuật như: bộ Linga-Yoni bằng đá có kích thước lớn nhất Đông Nam Á; hàng trăm lá vàng dập nổi trên các tượng thần; các con vật và đồ vật như ốc, bò, ngựa, bánh xe luân hồi hoa sen… Ngoài ra còn đĩa đồng, chân đèn, hộp bạc, mặt tượng đồng và đồ gốm.


Thánh địa Cát Tiên đã được xếp hạng là di tích Quốc gia đặc biệt từ năm 2014 và đang được đề nghị UNESCO xếp vào Di sản Văn hóa Thế giới.
PGS.TS Trịnh Sinh

Bình luận