Một thế kỷ khai quật khảo cổ

14/03/2019 18:24

Lịch sử con người trên đất nước Việt Nam đã vài chục vạn năm, cổ vật mà họ để lại cũng từng ấy năm trong lòng đất như ở di tích Hang Hùm (huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái).

Lịch sử con người trên đất nước Việt Nam đã vài chục vạn năm, cổ vật mà họ để lại cũng từng ấy năm trong lòng đất như ở di tích Hang Hùm (huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái). Một quãng thời gian ngắn ngủi hơn thế nhiều, cách đây chừng một thế kỷ, các học giả trong nước mới có ý thức về khảo cổ học, đi tìm đồ cổ một cách khoa học hơn. Hóa ra, đồ cổ lại giúp chúng ta dựng lại từng nấc thang của lịch sử tiến hóa con người ở mảnh đất này và lại là một kho di sản nghệ thuật hết sức phong phú.

Từ những chiếc rìu tay thời Đồ Đá cũ với kỹ thuật ghè đẽo đơn giản tiến tới rìu đá mài, người cổ đã trải qua một thời đại đồ đá đầy gian lao. Chỉ có đá và ngọn lửa tự tay tạo ra, người xưa đã để lại hàng chục di tích, công cụ và những chiếc vòng đá đẹp mắt đeo tai, hạt chuỗi bằng vỏ ốc biển đeo ngực… Cuối thời này, họ còn chế tạo được đồ ngọc tinh xảo như những chiếc “nha chương” (biểu tượng của thủ lĩnh), các loại vòng đeo tay, đeo cổ.

Bước vào thời đại Kim Khí, niên đại cách đây chừng 2.000 - 4.000 năm, nhờ có công cụ bằng đồng và sắt, người cổ ở nước ta mới có bước đột phá, tạo ra được các nền văn hóa phát triển rực rỡ trên cả ba miền và tụ hội lại ở đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Đồng Nai.

Hàng trăm chiếc trống đồng đạt đỉnh cao của kỹ thuật đúc, tinh xảo về trang trí hoa văn như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa, Miếu Môn, Trường Thịnh… được tìm thấy từ trong lòng đất. Đây là kho trống đồng đẹp nhất của cả vùng Đông Nam Á và phía nam Trung Quốc. Các nhà khảo cổ cũng tìm được hàng trăm mảnh khuôn đúc bằng đất nung để đúc các loại trống này từ trong lòng đất của khu thành Luy Lâu (Bắc Ninh) là minh chứng cho việc trống đồng được chính người Lạc Việt đúc. Ngoài ra còn những chiếc thạp đồng có hoa văn hình thuyền, người múa hóa trang, miêu tả hươu, chó trong cảnh đi săn, cùng các loại vũ khí. Đáng lưu ý, các nhà khảo cổ đã tìm ra hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh cùng loại khuôn ba mang bằng đá, chứng minh cho truyền thuyết “nỏ thần” trong thiên tình sử Mỵ Châu -Trọng Thủy là có một cốt lõi sự thật lịch sử.  

Vào thời Bắc thuộc, sức sống của văn hóa Đông Sơn vẫn còn thể hiện ở các di vật vừa có tính bản địa vừa có nét giao lưu với phương Bắc như các đồ đồng, đồ gốm. Cùng thời với Đông Sơn, tại miền Trung và miền Nam có các hiện vật đặc sắc của văn hóa Sa Huỳnh và Đồng Nai, thể hiện ở tượng động vật đang đứng với bộ phận sinh dục khá lớn, thể hiện tín ngưỡng phồn thực sinh động, chưa từng thấy ở các nơi khác cùng thời. Ngoài ra còn các đồ trang sức điển hình như khuyên tai hình hai đầu thú hay ba mấu, các đồ gốm gia dụng, kể cả một loại “cà ràng” (kiềng ba chân) độc đáo mà đến nay vẫn được người dân dùng để nấu nướng trong cuộc sống thường nhật.

Trong thời kỳ Lý, Trần cho đến Hậu Lê, có nhiều đồ cổ quý báu được khai quật từ trong lòng đất Thăng Long xưa như các tượng đầu rồng, đầu phượng; gạch, ngói âm dương; đồ gốm men ngọc thời Lý, men nâu thời Trần, men lam thời Lê; tượng và phù điêu động vật. Đáng chú ý, trong những linh vật độc đáo, có các tượng nghê bằng gốm là loại linh vật thuần Việt ở thời Lê. Tại khu vực miền Trung và miền Nam, từ những thế kỷ đầu Công Nguyên, trong các nền văn hóa Chămpa, Phù Nam, các nhà khảo cổ đã tìm thấy khá nhiều đồ cổ quý giá: tượng các vị thần bằng đá sa thạch; linga bằng vàng hay thạch anh mạ vàng; các lá vàng được chạm khắc hình mặt trời, mặt trăng, tượng linh thú. Mỗi tượng thần, tượng thú đều bắt nguồn từ các sự tích huyền thoại ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, Phật giáo. Nhiều vàng bạc, châu báu đã được chôn, yểm hay để thờ ở những đền tháp uy nghi như các tháp Chăm, các tháp ở thánh địa Cát Tiên, các tháp ở khu hải cảng cổ Óc Eo, Ba Thê…

Bên cạnh việc khai quật các di tích đền đài, các kinh đô như Thăng Long, Trà Kiệu…, các nhà khảo cổ còn khai quật những con tàu đắm ngoài khơi ở các khu vực Cù Lao Chàm, Bình Châu, Vũng Tàu, Bình Thuận, Kiên Giang… Số lượng cổ vật tìm thấy ở đây khá lớn: hàng chục vạn đồ gốm hoa lam sản xuất ở các lò gốm nổi tiếng thời Lê như Chu Đậu (Hải Dương). Ngoài ra còn có khá nhiều đồ gốm sản xuất ở Nam Trung Quốc, Nhật Bản, Chămpa, Thái Lan… làm phong phú cho kho tàng cổ vật nước ta. Đồng thời, kho đồ cổ này còn minh chứng cho một thời biển Đông là con đường giao thương Đông - Tây hết sức nhộn nhịp.

Sau một thế kỷ khai quật khảo cổ học, lòng đất đã trao lại cho chúng ta một kho báu vật tuyệt vời, minh chứng về một dân tộc có nền văn minh cao, giàu sức sáng tạo, tài hoa trong nghệ thuật tạo hình. Sưu tập hơn 300 hiện vật được chắt lọc từ các cuộc khai quật, sau các cuộc trưng bày ở châu Âu, lại trở về cái nôi sinh thành của mình và hiện được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam.

Giáo sư Trịnh Sinh

Bình luận