Nghệ thuật khảm sành sứ ở xứ Huế được hình thành vào khoảng thế kỷ XVI-XVII. Đó là giai đoạn các chúa Nguyễn đã thiết lập ở Đàng Trong những phủ chúa, những trung tâm văn hóa có sức sống mạnh mẽ và sức lan tỏa đến sự phát triển chung của vùng đất Thuận Hóa. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, nghệ thuật khảm sành sứ vẫn tồn tại và tạo nên những dấu ấn văn hóa thẩm mỹ, nghệ thuật không thể phai nhòa.


Từ thế kỷ XVIII, trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã nói đến chữ “sành sứ”, khi chúng là chất liệu được sử dụng khá phổ biến trong trang trí các phủ chúa và nhà dân thời bấy giờ: “Vườn sau thì núi giả đá quý, ao vuông hồ quanh, cầu vòng thủy tạ, tường trong tường ngoài đều xây dầy mấy thước, lấy vôi và mảnh sành sứ đắp thành hình rồng, phượng, lân, hổ, cỏ hoa...”. Trong đời sống nghệ thuật dân gian và cung đình ở Huế, thuật ngữ khảm sành sứ đã được dùng từ lâu và trở thành một cách gọi thông thường chỉ về loại thể nghệ thuật trang trí cắt gọt, ép dán và ghép mảnh sành sứ lên bề mặt kiến trúc, tượng tròn đắp nề hay đồ vật, từ đó tạo nên những hình tượng nghệ thuật.


Dưới thời Đồng Khánh, nghệ thuật khảm sành sứ dân gian và một số nghệ thuật dân gian khác đã có cơ hội thâm nhập mạnh mẽ vào nghệ thuật cung đình và đến thời Khải Định, nghệ thuật khảm sành sứ phát triển mạnh trong hầu hết trang trí kiến trúc. Chúng được nâng lên một tầm cao mới, thực sự trở thành một chất liệu nghệ thuật đạt đến đỉnh cao. Khải Định là một ông vua say mê nghệ thuật mới châu Âu, đồng thời cũng rất thích trang trí khảm sành sứ, vì vậy được dân gian Huế xưa gán cho cái tên “vua mảnh sành” hay “con yêu mảnh sành”. Nổi bật trong phong cách khảm sứ màu vừa có tính tinh nhã cung đình, vừa có tính phóng khoáng dân gian là ở các công trình lăng Kiên Thái Vương, cung Thiên Định và cổng chính cung An Định.




Lăng Kiên Thái Vương còn đọng lại vẻ đẹp trầm mặc, rêu phong với sự cuốn hút và lay động bởi nét xưa cổ đa dạng và độc đáo không chỉ ở nghệ thuật trang trí khảm sứ mà cả ở cấu trúc kiến trúc, cảnh quan không gian. Tại đây dường như đồng thời có hai phong cách trang trí và kỹ thuật chất liệu khảm sành sứ khác nhau. Những chiếc đĩa sứ nguyên chiếc gắn trên bình phong bửu thành, tạo nên “ngũ hành” được coi là “độc nhất vô nhị” trong mỹ thuật thời Nguyễn. Tiêu biểu là hai bi đình của lăng với sự chiếm lĩnh gần như tuyệt đối của đề tài Nhị thập Tứ hiếu ca ngợi đạo hiếu đã được thể hiện bằng khảm sành sứ với các ô hộc như tranh bích họa phương Đông cổ, sử dụng lối phối cảnh tam viễn và thấu thị bình đồ quen thuộc. Những mảnh sứ ở đây thường được cắt nhỏ vụn hơn so với các vị trí khảm sứ khác, tính tỉ mỉ thể hiện rõ ràng từng chi tiết tả người, vật và các con thú. Chất kết dính ở nề họa và trang trí khảm sứ ở lăng Kiên Thái Vương được chế tác từ vật liệu truyền thống với các các chất phối hợp như vôi hàu, mật mía, bột giấy và giấy, cùng một số lá cây xơ và nhựa cây...


Ở lăng Khải Định, dù ảnh hưởng phương Tây ở kiến trúc, nhưng nghệ thuật khảm sành sứ vẫn đầy ắp tinh thần bản sắc dân tộc với những đề tài và chất liệu gần gũi quen thuộc như tứ linh, bát quả, bát bửu, tứ thời... Nếu như trang trí ngoại thất chỉ thuần nề vữa có phần đơn điệu, thì trang trí nội thất với việc sử dụng tối đa nghệ thuật khảm sành sứ khiến cho công trình thực sự là các tác phẩm nghệ thuật trang trí đa dạng và có tính thẩm mỹ cao. Bước vào trong nội điện đã thấy ngay một thế giới màu sắc lộng lẫy, lung linh kỳ ảo với ánh sáng tươi tắn. Người ta dễ quên nơi đây là lăng mộ, âm u, lạnh lẽo buồn thảm, mà chỉ thấy bị thu hút bởi hình ảnh của những bức tranh khảm sứ và thủy tinh màu trên khắp các mặt tường. Bức bửu tán khảm sành sứ trên bức tượng vua Khải Định nặng cả tấn được trang trí với những đường cong uốn lượn mềm mại, tạo ra cảm giác nhẹ nhàng, thanh nhã. Khải Định là một ông vua có thị hiếu thẩm mỹ rất phức tạp, nhưng sự táo bạo của ông đã làm cho nghệ thuật trang trí thời Nguyễn giai đoạn đầu thế kỷ XX trở nên sống động và tràn đầy sinh khí.


Một công trình đặc sắc khác về hiệu quả khảm sành sứ là cổng chính cung An Định, được xây dựng vào năm 1917. Tại đây nổi bật lên hình tượng các linh thú, hoa lá, nền hoa văn hình học bằng khảm sành sứ được cắt gọt tỉ mỉ. Hình tượng rồng phượng là một tổ hợp của nhiều nhịp điệu với thân hình được gắn những vảy xanh trắng, đuôi là dải vân xoắn đa sắc, xung quanh là những ô hộc trang trí tứ thời với những sắc màu lục lam, cam tím và trên các trụ biểu là các bầu pháp lam bằng nề vữa khảm sứ lam trắng. Tại vòm cửa có đôi phượng chầu cuốn thư được trang trí theo gam màu lam trắng kết hợp với những hoa văn mây lửa màu xanh lục.




Góp phần vào những giá trị nghệ thuật khảm sành sứ Huế là sự tụ hội của những nghệ nhân bậc thầy từ khắp nước. Như Nguyễn Du Chi đã viết: “Chắc chắn những người thợ xây dựng nên công trình Huế vốn là những phường thợ nổi tiếng của mọi vùng được triều đình thu nạp về. Do vậy sẽ là sai lầm nếu ai đó coi văn hóa Huế là một văn hóa vùng riêng, biệt lập với các vùng văn hóa khác”.
Bài: PGS.TS Phan Thanh Bình
Trường đại học Nghệ thuật, Đại học Huế
Ảnh: Phan Thanh Bình, Lê Bích

Bình luận