Lịch sử rượu vang

14/12/2017 10:16

Không ai biết con người bắt đầu làm rượu vang từ khi nào. Có một điều chắc chắn: vang đã là một phần của văn hóa loài người từ trước khi chữ viết được phát minh ra. Cách ngày nay hơn 6.000 năm, người Armenia đã sản xuất rượu vang ở quy mô tương đối lớn, mà đến nay còn để lại những máy ép nho bằng đá, thùng lên men, vò và vại. Còn trước đây 7.000 năm, người Iran đã dùng những vò gốm được bịt kín bằng nhựa cây để giữ rượu vang được lâu hơn.

Thức uống của những vị thần
Sự quan trọng của rượu vang trong văn hóa phương Tây có lẽ bắt nguồn từ người Hy Lạp cổ đại. Trong số 12 vị thần tối cao trên đỉnh Olympus của thần thoại Hy Lạp, chỉ duy nhất có thần rượu vang Dionysus tuy có mẹ là người trần mắt thịt nhưng vẫn được “đặc cách”, ngồi ngang hàng với 11 vị thần có nguồn gốc hoàn toàn siêu nhiên kia. Những nhà giàu có và quyền quý ở Hy Lạp xưa thường tổ chức những cuộc bàn luận về chính trị hay triết học quanh một vại rượu vang lớn. Họ gọi đó là “symposium”, nghĩa đen là “uống cùng nhau”. Ngày nay, từ “symposium” trong các thứ tiếng Tây Âu có nghĩa là “hội thảo” hay “hội nghị”.




Người Hy Lạp cũng góp phần mang rượu vang và phương pháp trồng nho làm rượu đến nhiều miền đất mới, như miền Nam nước Pháp và vùng quanh biển Đen. Người ta tìm thấy những xác tàu Hy Lạp bị đắm ở ven bờ biển của Pháp, với những vò rượu tổng cộng hơn 300.000 lít. Ước tính, từ những thế kỷ trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã xuất khẩu khoảng 10 triệu lít rượu vang mỗi năm sang xứ Gaul, tức là nước Pháp bây giờ.


Người Hy Lạp đã bắt đầu sử dụng nhiều phương pháp trồng nho và làm rượu vang hiện đại, như là cố tình vặt bớt quả nho để tập trung hương vị vào những quả còn lại, hoặc nghiên cứu xem loại nho nào phù hợp với loại đất nào. Tuy nhiên, rượu vang của họ được trộn với gia vị, mật ong để giảm độ chua và tăng mùi thơm, còn khi uống thì được pha loãng bằng nước ấm hoặc bằng tuyết.
Người La Mã tiếp nối hầu hết truyền thống làm và uống rượu vang của người Hy Lạp. Các học giả La Mã như Pliny và Virgil viết rất nhiều về vùng trồng nho nào sản xuất ra rượu vang ngon. Người La Mã cũng chia rượu vang ra nhiều cấp độ khác nhau: loại cao cấp nhất là vang trắng ngọt, được làm bằng phương pháp giẫm chân mà ngày nay nhiều vùng làm rượu vẫn còn áp dụng; loại thấp cấp nhất làm từ xác và vỏ nho được ngâm lâu ngày trong nước, rồi ép bằng bàn đá.


Sự phân biệt vùng miền và cấp độ rượu của người La Mã vẫn còn để lại hậu duệ cho đến tận ngày hôm nay: chính là những khái niệm như “terroir” và “grand cru”. Và người La Mã cũng là những người đầu tiên làm vang giả: các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều vò rượu từ nơi khác có đóng dấu giả làm rượu vang Pompeii nổi tiếng ngon và đắt tiền. Di sản lớn cuối cùng mà người La Mã để lại cho thế giới rượu vang là việc ủ rượu vang trong thùng gỗ sồi – một phát minh của những binh đoàn lê dương La Mã đóng quân ở xứ Gaul.
Sự hình thành của thế giới rượu vang hiện đại
Sau khi đế chế La Mã sụp đổ, việc sản xuất rượu vang ở châu Âu không thay đổi nhiều. Thiếu đi ảnh hưởng văn hóa của La Mã, bia thay thế rượu vang để trở thành thức uống bình dân ở nhiều nơi, nhất là những nước phương Bắc khó trồng được nho. Việc làm rượu vang nhiều khi rơi vào tay giới thầy tu – đạo Thiên Chúa có nhiều nghi lễ cần dùng đến vang. Cũng từ đó mà rượu vang có tiếng là một thứ đồ uống “cao cấp” và “quý tộc” hơn so với bia. Dần dà, do sự thay đổi của sức mạnh chính trị và thương mại, những vùng rượu vang như Bordeaux, Médoc, Burgundy... dần dần phát triển và trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay.


Trong khi đó, cây nho và kĩ thuật làm rượu vang được người châu Âu mang theo trên những chuyến viễn du sang Tân Thế giới. Ngay từ chuyến đi sang châu Mỹ lần thứ hai của Columbus, người Tây Ban Nha đã tìm cách trồng nho ở thuộc địa Hispanolia trên biển Caribê. Đến năm 1595, châu Mỹ đã sản xuất ra nhiều rượu vang đến mức Hoàng gia Tây Ban Nha ban hành lệnh cấm trồng thêm vườn nho ở Nam Mỹ, để bảo vệ ngành sản xuất vang nội địa ở mẫu quốc. Nhưng lệnh cấm lúc đó đã gần như vô giá trị: Peru, Chile, và Argentina đã trở thành những vùng sản xuất vang có hạng.
Năm 1654, công ty Đông Ấn Hà Lan gửi một tàu chờ đầy gốc nho đến Nam Phi. Mũi Hảo Vọng của Nam Phi nằm trên con đường buôn bán tấp nập giữa Hà Lan và Indonesia. Trên những chuyến tàu buôn kéo dài nhiều tháng, thủy thủ thường mắc bệnh scurvy do thiếu Vitamin C. Công ty Đông Ấn thời đó cho rằng uống rượu vang sẽ làm giảm scurvy. Vì vậy, họ muốn trồng nho và làm rượu vang tại Nam Phi để cung cấp cho những chuyến tàu buôn nghỉ chân ở cảng này. Về khoa học, họ đã sai. Nhưng nhờ đó mà Nam Phi trở thành một trong những nhà sản xuất vang lớn của thế giới cho đến ngày nay.


Và nhắc đến vang, chúng ta cũng không thể quên châu Úc. Úc và New Zealand vốn là nơi đi đày ải của những người Anh quốc chịu án tù khổ sai. Năm 1788, cây nho lần đầu tiên được mang đến Úc. Nhưng phải mất tận 30 năm, đến năm 1820, người ta mới thành công trong việc giúp cây nho thích nghi với khí hậu địa phương. Ngành rượu vang Úc phát triển nhanh chóng: đến năm 1870, vang Úc đã ngon đến mức ở Hội chợ rượu vang Paris, các giám khảo nhất định không tin những chai vang Úc từ Victoria là đồ thật. Họ cương quyết rằng những người làm vang đã đổ vang Pháp vào chai!


Cuối thế kỷ 19, sự kiện lớn nhất của thế giới rượu vang cho đến ngày nay xảy ra: nạn dịch phylloxera. Đó là một loại rầy làm chết cây nho, lây lan nhanh chóng, và không thuốc nào chống được. Một nửa diện tích trồng nho ở Pháp bị hủy diệt hoàn toàn.


Sau 15 năm, người ta mới tìm ra cách chữa: ghép gốc nho châu Mỹ với cây nho châu Âu. Nhưng nhiều giống nho lúc đó đã gần như tuyệt chủng. Nhiều người mê rượu vang cũng cho rằng những cây nho ghép làm ra rượu vang không ngon bằng cây nho chính gốc. Do đó, những chai rượu vang cổ từ thời trước nạn dịch phylloxera thường có giá trị cực kì cao trên các sàn đấu giá.
Rượu vang đang ngày càng trở nên phổ biến bởi sự tinh tế và đa dạng của nó. Để hiểu hết về rượu vang, đừng bỏ qua lịch sử của loại đồ uống có độ tuổi ngang bằng chính nền văn minh của loài người này.
Phillip Nguyen

Bình luận